Quy định số 06-QĐ/TW, ngày 09 tháng 02 năm 2026 của Ban Bí thư về quản lý và sử dụng thẻ đảng viên, quy định về trách nhiệm, thẩm quyền của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy và đảng viên trong việc quản lý, sử dụng và xử lý vi phạm liên quan đến thẻ đảng viên.
Nội dung chính:
Thẻ đảng viên:
Là chứng nhận quan trọng, xác nhận là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam và được cấp khi đảng viên đã được công nhận đảng viên chính thức. Mẫu và nội dung thẻ được quy định tại Quyết định số 347-QĐ/TW, ngày 08/8/2025 của Ban Bí thư.
Sử dụng thẻ:
Được dùng để biểu quyết trong sinh hoạt đảng, trong đại hội đảng các cấp (trừ các trường hợp biểu quyết bằng phiếu kín); thực hiện các thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử theo quy định.
Trách nhiệm của đảng viên (Điều 4):
- Phải bảo quản, giữ gìn cẩn thận và sử dụng thẻ đảng viên đúng quy định.
- Nghiêm cấm cho người khác mượn, sử dụng; không được dùng để cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố vay, mượn tiền, tài sản; không được đăng tải hình ảnh thẻ lên mạng xã hội với mục đích xấu hoặc không phải thẻ của mình; không được tự hủy thẻ.
- Khi thẻ bị sai, hỏng, mất phải kịp thời báo cáo cấp ủy, chi bộ quản lý trực tiếp để đề nghị cấp lại.
- Đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xóa tên và đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác phải nộp lại thẻ đảng viên cho chi bộ.
- Gia đình đảng viên từ trần được giữ lại thẻ nhưng không được sử dụng trái quy định.
- Phát hiện thẻ đảng viên của đảng viên khác bị thất lạc hoặc sử dụng trái quy định phải kịp thời báo cáo cấp ủy, chi bộ quản lý trực tiếp.
Trách nhiệm của chi bộ, cấp ủy cơ sở (Điều 5):
- Quán triệt, hướng dẫn đảng viên quản lý, sử dụng thẻ đúng quy định.
- Đề nghị cấp trên trực tiếp cấp mới, cấp lại thẻ và tổ chức phát thẻ tại cuộc họp chi bộ gần nhất.
- Định kỳ hằng năm tổ chức kiểm tra thẻ đảng viên và báo cáo kết quả.
- Tiếp nhận, xác minh, báo cáo kịp thời các trường hợp mất thẻ, hỏng thẻ hoặc sử dụng thẻ không đúng quy định.
- Thu lại thẻ đảng viên khi đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xóa tên, đưa ra khỏi Đảng hoặc thẻ bị sai, hỏng và nộp lên cấp trên trực tiếp.
- Thực hiện nghiệp vụ về phát, quản lý thẻ theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
Trách nhiệm của cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (Điều 6):
Lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát; xét đề nghị và ra quyết định cấp mới, cấp lại thẻ; tiếp nhận thẻ thu hồi và gửi ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; thực hiện nghiệp vụ về phát, quản lý thẻ.
Trách nhiệm của tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương (Điều 7):
Lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng thẻ; chỉ đạo ban tổ chức phê duyệt danh sách cấp mới, cấp lại thẻ trước khi gửi Ban Tổ chức Trung ương in thẻ; chỉ đạo ban tổ chức tiếp nhận thẻ hoàn chỉnh từ Ban Tổ chức Trung ương và chuyển về các tổ chức đảng trực thuộc; tiếp nhận thẻ thu hồi từ các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc, gửi Ban Tổ chức Trung ương hủy thẻ.
Xử lý vi phạm (Điều 8):
- Đảng viên tự ý trả thẻ hoặc tự hủy thẻ bị xóa tên đảng viên.
- Đảng viên sử dụng thẻ sai quy định; làm mất thẻ không có lý do chính đáng; để người khác sử dụng thẻ thì tùy mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của Đảng.
- Tổ chức đảng, đảng viên phát hiện những hành vi trái với Quy định này mà không kịp thời tố giác hoặc bao che thì tùy theo mức độ vi phạm bị xử lý.
- Tổ chức, cá nhân làm giả thẻ đảng viên thì tùy mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Tổ chức thực hiện (Điều 9):
Ban Tổ chức Trung ương phát hành, quản lý thống nhất thẻ đảng viên trong toàn Đảng. Đảng ủy Công an Trung ương phối hợp thực hiện việc sản xuất, in và hủy thẻ. Văn phòng Trung ương Đảng bảo đảm kinh phí, điều kiện kỹ thuật, an ninh, bảo mật dữ liệu. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp chịu trách nhiệm phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện.
Hiệu lực thi hành (Điều 10):
Quy định này có hiệu lực từ ngày ký (09 tháng 02 năm 2026) và được phổ biến tới chi bộ.


